Vướng Mắc Trong Việc Giải Quyết Hậu Quả Của Việc Đơn Phương Chấm Dứt HĐLĐ trái pháp luật của NSDLĐ

Hiện nay tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (“ĐPCDHĐLĐ”) là một trong những tranh chấp phổ biến phát sinh trong quan hệ lao động. Trường hợp Tòa án xác định người sử dụng lao động ĐPCDHĐLĐ trái pháp luật thì theo Điều 42 Bộ luật Lao động năm 2012 (“BLLĐ 2012”), người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ như sau:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động…”

Như vậy, theo khoản 1 Điều 42 nêu trên thì người sử dụng lao động, ngoài việc phải nhận người lao động trở lại làm việc còn phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc và ít nhất 2 tháng tiền lương. Tuy nhiên, do Luật và các văn bản hướng dẫn không quy định rõ cách thức người sử dụng lao động trả tiền bảo hiểm xã hội (“BHXH”), bảo hiểm y tế (“BHYT”) trong những ngày người lao động không được làm việc nên hiện nay đang tồn tại hai cách hiểu khác nhau:

1. Cách hiểu thứ nhất: người sử dụng lao động trả trực tiếp cho người lao động số tiền tương đương số tiền phải đóng BHXH, BHYT trong những ngày người lao động không được làm việc.

Đây là cách hiểu khá phổ biến hiện nay, vì quy định trên không tách riêng tiền lương và tiền bảo hiểm, nên phải hiểu rằng tiền lương, tiền bảo hiểm sẽ được chi trả cho cùng một chủ thể là người lao động.

Nếu thực hiện theo cách hiểu này thì sẽ đơn giản và thuận tiện cho cả hai phía là người sử dụng lao động và người lao động – trong trường hợp người lao động muốn nhận tiền. Nhưng đối với trường hợp người lao động không muốn nhận tiền mà muốn được đóng BHXH đối với thời gian không được làm việc (do hành vi đơn ĐPCDHĐLĐ trái luật của người sử dụng lao động) thì sẽ không thực hiện được, vì theo quy định của luật BHXH hiện nay cá nhân người lao động không thể tự mình thực hiện các thủ tục để đóng BHXH bắt buộc mà đều phải thông qua đơn vị sử dụng lao động. Như vậy, quyền lợi của người lao động cũng sẽ bị ảnh hưởng do bị gián đoạn thời gian đóng bảo hiểm xã hội cũng như bị giảm thời gian đóng bảo hiểm khi thực hiện các chế độ, chính sách sau này.

2. Cách hiểu thứ hai: người sử dụng lao động buộc phải thực hiện thủ tục đóng BHXH, BHYT cho người lao động trong những ngày người lao động không được làm việc.

Nếu thực hiện theo cách hiểu thứ hai thì người sử dụng lao động phải làm thủ tục để đóng BHXH, BHYT cho người lao động, đồng thời người lao động cũng phải đóng một khoản tiền tương ứng theo tỷ lệ nghĩa vụ phải đóng BHYT, BHXH theo quy định của pháp luật.

Tuy vậy trên thực tế, có nhiều trường hợp khoảng thời gian từ khi người lao động bị người sử dụng lao động cho thôi việc đến khi có bản án có hiệu lực của tòa án về việc người sử dụng lao động ĐPCDHĐLĐ trái luật với người lao động kéo dài đến một hoặc hai năm. Việc này gây khó khăn cho người sử dụng lao động trong việc đóng BHYT, BHXH cho thời gian không làm việc của người lao động, đặc biệt là trong trường hợp người lao động không muốn quay trở lại tiếp tục làm việc hoặc người lao động đã có việc làm và đã đóng BHXH, BHYT ở chỗ làm mới.

Mặt khác, thực hiện theo cách hiểu thứ hai này thì trong thời gian không được làm việc người lao động vẫn phải đóng BHYT (cho thời gian đã qua) theo tỷ lệ pháp luật quy định nhưng lại không được hưởng quyền lợi từ việc đóng BHYT này. Đây cũng là một vấn đề bất cập vì không phát huy được vai trò, tác dụng của BHYT, làm ảnh hưởng đến quyền thụ hưởng bảo hiểm của người lao động.

Trên thực tế xét xử, các tòa án cũng không có sự thống nhất khi thực hiện quy định này. Có tòa án tuyên theo cách hiểu thứ nhất, lại có tòa án tuyên theo cách hiểu thứ hai.

Do vậy, để thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật, bảo đảm quyền lợi cho người lao động thì các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể trong vấn đề này, tránh tình trạng “bỏ ngỏ” như hiện nay.

                                                                                                                             Ls Vũ Thị Thu Hường

                                                                                                                          Công ty Luật TNHH SMiC