Trao Đổi Về Vấn Đề: Luật Sư Tố Giác Thân Chủ

Thời gian gần đây, một vấn đề được đưa ra tranh luận sôi nổi trong Dự thảo Bộ luật Hình sự mới: Có nên quy định Luật sư có nghĩa vụ tố giác thân chủ của mình hay không? Trao đổi về vấn đề này, chúng tôi đã có buổi phỏng vấn trực tiếp với Luật sư Vũ Thị Thu Hường – Công ty Luật TNHH SMiC để có cái nhìn khách quan, đa chiều về hoạt động hành nghề Luật sư.

Phóng viên (PV): Xin chào Luật sư, xin Luật sư cho biết, dự thảo Bộ luật Hình sự mới quy định như thế nào về nghĩa vụ tố giác thân chủ của Luật sư?

Luật sư (LS): Điều 389 của Dự thảo quy định: "Người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác".

Theo quy định nêu trên của Dự thảo, khi tham gia bào chữa cho đương sự thì Luật sư có trách nhiệm tố giác tội phạm do thân chủ/khách hàng đã thực hiện theo quy định. Trường hợp không tố giác thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm.

PV: Khi tố giác tội phạm thì chắc chắn Luật sư sẽ phải cung cấp những thông tin của thân chủ/khách hàng cho Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, Luật sư có đang vi phạm nguyên tắc bảo mật thông tin hay không?

LS: Điểm c khoản 1 Điều 9 của Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012, nghiêm cấm luật sư thực hiện hành vi: “Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác”.

Ngoài ra, theo QĐ 68/QĐ-HĐLSTQ năm 2011 về quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam cũng có quy định về quy tắc giữ bí mật thông tin: “Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật;.

Như vậy đối chiếu quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam với nội dung dự thảo Bộ luật Hình sự mới về việc quy định buộc Luật sư tố cáo thân chủ, chúng ta có thể thấy sự bất cập trong quy định của pháp luật, từ đó dẫn đến những khó khăn nhất định trong quá trình thực hiện công việc của Luật sư.

Nhìn rộng ra pháp luật một số quốc gia khác, ở một số nước theo hệ thống luật Common Law, thông tin trao đổi giữa Luật sư và khách hàng được bảo vệ bởi “đặc quyền của mối quan hệ giữa luật sư và thân chủ” (attorney-client relationship) - buộc luật sư phải bảo vệ thông tin của khách hàng một cách tuyệt đối. Ở một số nước khác như Nhật, Đức…, Luật sư được miễn trừ nghĩa vụ tố giác với mọi loại tội phạm, chỉ trừ trường hợp thân chủ của mình chuẩn bị thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như khủng bố, lật đổ chính quyền.

PV: Vừa qua dư luận rất quan tâm đến thảo luận của đại biểu Quốc hội về nội dung nêu trên, và đã có nhiều ý kiến khác nhau. Luật sư nghĩ sao về vấn đề này?

LS: Nhìn một cách tổng thể thì việc buộc Luật sư tố cáo thân chủ không thực sự phù hợp với vai trò, trách nhiệm của Luật sư. Trách nhiệm của Luật sư là bào chữa giảm nhẹ hoặc miễn trừ trách nhiệm hình sự cho thân chủ. Luật sư không có nghĩa vụ tố giác hoặc làm xấu đi tình trạng của thân chủ mình. Hơn nữa, nếu pháp luật quy định Luật sư có nghĩa vụ tố cáo thân chủ sẽ dẫn đến việc khách hàng mất niềm tin vào cá nhân Luật sư đó nói riêng cũng như nghề Luật sư nói chung.

Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 quy định nghĩa vụ bảo vệ dân tộc, đấu tranh chống lại những kẻ xâm phạm tới an ninh Quốc gia là trách nhiệm đặc biệt, trực tiếp và nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân. Vì vậy, nếu Luật sư biết chắc chắn thân chủ của mình đang chuẩn bị thực hiện hành vi có khả năng xâm phạm đến an ninh quốc gia, Luật sư với vai trò là công dân, thì cũng có nghĩa vụ thông báo với cơ quan chức năng để kịp thời ngăn chặn hành vi đó, tránh gây ảnh hưởng tới chủ quyền dân tộc.

Vì vậy, theo tôi, luật chỉ nên quy định nghĩa vụ tố giác thân chủ của Luật sư trong trường hợp Luật sư biết rõ thân chủ của mình đang chuẩn bị thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia. Còn với các tội phạm khác, Luật sư cần được miễn trừ nghĩa vụ tố giác.

PV: Xin cảm ơn những ý kiến của Luật sư.