Những Thách Thức Chính Đối Với Ngành Nông Nghiệp Việt Nam Khi Gia Nhập TPP

Đã 08 năm trôi qua kể từ ngày Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) vào năm 2007. Tại thời điểm gia nhập, nền kinh tế Việt Nam được dự đoán sẽ phát triển vượt bậc, thậm chí sự kiện này được xem như là cơ hội để Việt Nam tin rằng đất nước sẽ “cất cánh” và trở thành “con hổ mới của Châu Á”. Nhưng, hầu hết doanh nghiệp và người dân đã dần cảm thấy thất vọng với một sự thực rằng tăng trưởng kinh tế đã thấp hơn rất nhiều so với mức kỳ vọng kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Ngoài những nguyên nhân khác, việc không chuẩn bị một cách cẩn thận, kỹ lưỡng và quá lạc quan về lợi ích do WTO mang lại là những lý do chính gây nên sự thất vọng ở trên. Giờ đây, lịch sử dường như đang lặp lại khi Việt Nam đang tham gia  đàm phán một Hiệp định thương mại tự do quan trọng khác – Đàm Phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Các phương tiện truyền thông đã phân tích, thậm chí còn cường điệu hóa rất nhiều lợi ích quan trọng của TPP dành cho Việt Nam nhằm tạo làn sóng ủng hộ trong công chúng để ký kết TPP. Tuy nhiên, đáng tiếc rằng, cũng giống như WTO, TPP không phải là “miếng ngon béo bở” và tất nhiên, chằng có gì là miễn phí cho Việt Nam cả. Trên phương diện đó, việc TPP ảnh hưởng như thế nào đối với ngành nông nghiệp của Việt Nam- ngành chiếm 70% dân số là vấn đề lớn cần phải phân tích thêm.

1. Về TPP và sự gia nhập của Việt Nam

Đàm Phán Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là vòng đàm phán hiệp đinh thương mại tự do (“FTA”) với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Ban đầu với một thỏa thuận khiêm tốn với chỉ có bốn thành viên bao gồm ChileNew Zealand, và Singapore vào năm 2006, cùng với sự đàm phán gia nhập của Australia, Canada, Mexico, Peru, Vietnam, Malaysia, Hoa Kỳ và gần đây là Nhật Bản, Đàm Phán TPP đã phát triển, mở rộng và trở thành “sự hợp tác thương mại lớn nhất, năng động nhất của thời đại hiện nay”, là Hiệp định của thế kỷ 21 như lời khẳng định của Ngài Ron Kirk, Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ. TPP đã và đang trải qua 20 vòng đàm phán và dự kiến sẽ được ký kết vào giữa năm nay.

Chính thức tham gia đàm phán TPP từ tháng 11 năm 2010, chính phủ Việt Nam hy vọng và tin tưởng rằng các nhà xuất khẩu trong nước sẽ có quyền tiếp cập nhiều hơn đến các thị trường rộng lớn, năng động và phát triển mạnh của các đối tác TPP với hơn 792 triệu dân, đóng góp khoảng 40% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và khoảng 1/3 kim ngạch thương mại toàn cầu. Thêm vào đó, TPP sẽ giúp Việt Nam củng cố sự cạnh tranh của mình khi tham gia vào khối thương mại béo bở này. 

2. Thách thức cho ngành nông nghiệp Việt Nam:

a. Quy tắc được đề xuất đối với Nông nghiệp trong TPP

TPP không đưa quy định nông nghiệp thành một  chương thay vào đó là các quy tắc ảnh hưởng đến nông nghiệp, hệ thống và an toàn thực phẩm được đề xuất, và dự thảo cụ thể vẫn còn được giữ bí mật. May mắn là các vấn đề và nội dung quan trọng của các cuộc đàm phán TPP trong lĩnh vực nông nghiệp đã được tiết lộ và cập nhật thường xuyên. Trong đó, quy tắc tham vọng nhất đối với lĩnh vực Nông nghiệp trong chương trình nghị sự của TPP có lẽ là đưa thuế suất nhập khẩu về 0% đối với tất cả sản phẩm Nông nghiệp. Điều đáng tiếc là Hoa Kỳ đã buộc các nước đưa ra ngoài chương trình nghị sự của TPP về vấn đề trợ cấp nông nghiệp, chính sách gây bóp méo thương mại chính của các nước phát triển, đặc biệt là chính Hoa Kỳ. Rõ ràng, Hoa Kỳ đủ khôn ngoan để ép buộc và loại bỏ vấn đề sẽ gây thiệt hại cho nền nông nghiệp của họ, do đó, các nước đang phát triển, kể cả Việt Nam, đã bị tước đoạt những gì có lợi cho nền thương mại của mình.

b. Những tác động tiêu cực có thể xảy ra đối với các doanh nghiệp Việt Nam

i. Mất thị phần nội địa:

Mở cửa thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp luôn là một vấn đề nhạy cảm vì nó ảnh hưởng đến 70% dân số của nước ta. Do đó, tham vọng để đưa mức thuế suất về 0% theo TPP chắc chắn ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trong nước.

Nông nghiệp Việt Nam có cả lợi ích “phòng thủ” và “tấn công” trong đàm phán TPP. Các doanh nghiệp nội địa có cái nhìn rất tích cực về triển vọng xuất khẩu nhiều sản phẩm nông nghiệp hơn với các nước TPP, đặc biệt là Nhật Bản, Hoa Kỳ và Canada. Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ ba của Nhật Bản về hạt tiêu, cà phê và các loại trái cây nhiệt đới, và là đối tác thứ mười lăm của Hoa Kỳ về xuất khẩu cà phê, hạt điều, hạt tiêu, gạo và chè. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nội địa cũng lo ngại sự cạnh tranh khốc liệt đối sản phẩm nhập khẩu nếu Việt Nam mở cửa thị trường, đặc biệt là đường và các sản phẩm sữa, thịt và thịt bò.

Theo quy tắc TPP, Việt Nam phải mở cửa thị trường nông nghiệp, tức là loại bỏ 100% mức thuế suất thuế nhập khẩu trong khi các rào cản kỹ thuật trong nước không cao, gây bất lợi cho sản xuất trong nước vốn dĩ được bảo hộ bởi hàng rào thuế quan.  Khi TPP có hiệu lực, thị trường Việt Nam được dự đoán sẽ tràn ngập nông sản từ các nước đối tác TPP, đặc biệt là New Zealand, Hoa Kỳ, and Úc vì nhiều lý do như được phân tích dưới đây.

Nỗi lo thực sự đến từ các sản phẩm của Úc, New Zealand và Hoa Kỳ

Cộng đồng doanh nghiệp nội địa đang lo ngại rằng các sản phẩm chăn nuôi như thịt bò, thịt lợn, thịt gia cầm, đường, sữa, trái cây nhiệt đới như táo, cam, ngô, bông, bia, rượu và nước giải khát sẽ phải cạnh tranh quyết liệt với các sản phẩm đến từ New Zealand, Úc, và Hoa Kỳ bởi “những tay chơi lớn” này có khả năng thực hiện những “cuộc tấn công nhanh chóng” với lực lượng sản xuất nông nghiệp mạnh mẽ, nhiều kinh nghiệm và sản phẩm chất lượng cao của họ.

Đối với sản phẩm ngô và bông, Việt Nam hiện đang nhập khẩu khoảng 40% từ Hoa Kỳ, tuy nhiên, thuế nhập khẩu đã rất thấp, chỉ 0-5 %. Vì vậy, nếu TPP loại bỏ thuế quan đối với các sản phẩm này, doanh nghiệp Việt Nam sẽ không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, sữa lại là trường hợp khác. Hiện nay, thuế nhập khẩu đối với sản phẩm sữa theo cam kết WTO là 25 % nhưng nhu cầu vẫn còn rất cao. Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, Việt Nam nhập khẩu từ 72% đến 73% nguyên liệu sữa trong năm 2013 và 2014 và số lượng tiếp tục tăng hàng năm. Trong số đó, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ New Zealand , Mỹ , Úc với lần lượt là 27%, 13 %, và 10 %.

Cộng đồng doanh nghiệp cũng lo ngại rằng thịt bò, thịt cừu, thịt gia cầm…từ Hoa Kỳ, Úc và New Zealand sẽ tràn ngập thị trường Việt Nam khi hiệp định TPP có hiệu lực, vì với mức thuế nhập khẩu hiện hành (khoảng 20%), các sản phẩm nội địa vẫn không thể cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu .

Cạnh tranh khốc liệt với các loại đồ uống, bia và rượu vang nhập khẩu từ các nước TPP cũng là một thách thức đối với các nhà sản xuất trong nước

Hiện nay, thuế suất nhập khẩu áp dụng cho các sản phẩm này theo cam kết WTO là rất cao, tương đương với 35%, 45%, và 30%. Khi thuế suất nhập khẩu cho các sản phẩm này được đưa về mức 0% thì thị trường trong nước chắc chắn sẽ bị chi phối bởi các sản phẩm nhập khẩu vì tâm lý thích dùng thương hiệu ngoại của Người Việt và năng lực yếu kém của các nhà sản xuất trong nước.

Ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ không bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các sản phẩm nhập khẩu đến từ Brunei, Malaysia, Singapore, Peru, Chile, và Nhật Bản

Brunei và Singapore không có lượng lớn các sản phẩm nông nghiệp; do đó, khả năng các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam bị cạnh tranh mạnh mẽ từ các quốc gia này sẽ không xảy ra.

Đối với Malaysia, nước này hiện tại đã nhập khẩu rất lớn các sản phẩm nông nghiệp từ Việt Nam (đặc biệt là gạo, rau quả, và thịt), do đó không có bất kỳ rủi ro khi Việt Nam mở cửa thị trường nông sản của mình cho Malaysia theo TPP.

Đối với Chile, Peru, Việt Nam vừa có FTA với Chile từ năm 2011, và chưa có bất kỳ FTA nào với Peru. Tuy nhiên, những thị trường này có khoảng cách địa lý khá xa, quy mô dân số nhỏ và năng lực cạnh tranh thấp tương đương với Việt Nam do vậy việc mở cửa thị trường nông sản với hai nước này trong TPP sẽ không tạo ra bất kỳ thách thức đáng kể đối với thị trường của Việt Nam và cũng không tạo tiềm năng phát triển của Việt Nam tại hai thị trường này.

Nhật Bản không gây ra bất kỳ mối lo ngại nào đối với nông nghiệp Việt Nam vì đây là nước nhập khẩu ròng trong lĩnh vực này.

ii. Mất thị phần tại các thị trường các đối tác thuộc TPP

Với việc loại bỏ thuế quan trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam hy vọng đây sẽ là cơ hội vàng để xuất khẩu nhiều sản phẩm tới các thị trường đầy hứa hẹn này, nhất là các sản phẩm hoa quả nhiệt đới, rau quả, cà phê, gạo, chè, hạt điều, hạt tiêu đen và các sản phẩm từ cao cao su. Tuy nhiên, TPP không phải là thảm đỏ cho nông nghiệp của Việt Nam. Mở cửa thị trường cho sản phẩm nông nghiệp luôn luôn là một vấn đề nhạy cảm đối với mỗi quốc gia, nhất là đối với các nước phát triển. Do đó, nền nông nghiệp nội địa của các nước phát triển sẽ được bảo vệ bởi hàng rào phi thuế quan như quy định về pha trộng, về vệ sinh dịch tễ, sức khỏe, các tiêu chuẩn kỹ thuật và nhãn mác… Vì vậy, ngay cả khi với thuế suất 0% thì chúng ta cũng cần phải chuẩn bị tâm lý rằng các nước phát triển trong TPP vẫn sẽ tìm mọi cách để hạn chế nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp từ nước khác để bảo vệ  nền nông nghiệp nội địa của họ. Riêng đối với Hoa Kỳ thì họ luôn có biện pháp phòng vệ hiệu quả để ngăn chặn hàng nông sản nhập khẩu. Rõ ràng, với khả năng sản xuất sản phẩm chất lượng cao cùng với hàng rào kỹ thuật, Hoa Kỳ hoàn toàn có khả khả năng để bảo vệ nền nông nghiệp của mình.

Với thực tế rằng hàng rào kỹ thuật của các nước phát triển sẽ ngày càng bị thắt chặt hơn trong khi năng lực cạnh tranh của Việt Nam còn yếu sẽ cản trở chúng ta tận dụng những lợi ích từ việc giảm thuế quan trong TPP. Ngay cả ở Nhật Bản, Chính phủ đang xem xét để bồi thường cho nông dân Nhật Bản về những tổn thất mà họ có thể phải chịu khi Nhật Bản tham gia TPP. Điều này cho thấy nền kinh tế giàu có này nhìn nhận được những tác động mà TPP có thể sẽ mang đến cho đất nước.

Với Việt Nam, khi mà các nhà sản xuất nội địa trong lĩnh vực nông nghiệp hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, phân tán, không có chiến lược rõ ràng về quy trình sản xuất, phân phối sản phẩm giống cây trồng vật nuôi, năng lực tài chính yếu kém, thiếu vốn để cải thiện công nghệ sản xuất và năng suất lao động thì chính phủ và các nhà sản xuất trong nước cần có một chiến lược toàn diện và rõ ràng để nâng cao năng lực cạnh tranh và cải tiến công nghệ để tăng năng suất và chất lượng để sẵn sàng cho việc cạnh tranh với làn sóng các sản phẩm nhập khẩu, nếu không họ sẽ mất cả thị trường nội địa và thị trường của đội tác TPP, nói cách khác, sản phẩm Việt thua ngay cả trên sân nhà và sân bạn vì gia nhập TPP. Cuối cùng, người nông dân sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nếu chưa có chiến lược và giải pháp rõ ràng với ngành nông nghiệp, chính phủ không nên ký kết Hiệp định TPP bằng mọi giá.

                                                                                                                                              Theo Nguyễn Thị Thành

                                                                                                                                              Công ty Luật TNHH SMiC