Bất Cập Từ Thủ Tục Đầu Tư Áp Dụng Với Nhà Đầu Tư Nước Ngoài theo Luật Đầu tư 2014

Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 (“Luật Đầu tư 2014”) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2015 được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể trong thu hút đầu tư và quản lý môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, sau một thời gian thực thi, Luật Đầu tư 2014 đã bộc lộ một số bất cập mà một trong số những bất cập đó là thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài là thành viên, cổ đông hiện hữu của tổ chức kinh tế quy định tại Điều 26 Luật Đầu tư 2014.

Chúng ta cùng nghiên cứu một tình huống cụ thể sau: Công ty TNHH A, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vào tháng 01 năm 2016, có 03 thành viên góp vốn là B, C và D, trong đó B và C là nhà đầu tư nước ngoài, nắm giữ phần vốn góp lần lượt là 31% và 20% vốn điều lệ, còn D là nhà đầu tư trong nước, nắm giữ phần vốn góp tương đương với 49% vốn điều lệ. Theo chiến lược kinh doanh mới, B muốn chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp cho C (nếu thành công, C sẽ nắm giữ 51% vốn điều lệ của Công ty TNHH A).

Điểm b, Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư 2014 yêu cầu nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế trong trường hợp: Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

Như vậy, để được nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của B, C phải thực hiện thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp như được quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư 2014.

Theo Khoản 3 điều 46 Nghị định 118/2015/NĐ-CP (về thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài), C phải nhận được thông báo của Sở Kế hoạch Đầu tư có thẩm quyền về việc đáp ứng điều kiện đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài thì mới thực hiện tiếp thủ tục thay đổi thành viên, cổ đông tại Cơ quan đăng ký kinh doanh. Cụ thể, trong trường hợp này, C phải thực hiện đầy đủ 02 (hai) bước để có thể nhận chuyển nhượng được toàn bộ phần vốn góp của B trong Công ty TNHH A, gồm Bước 1 - Thực hiện thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp nhưđược quy định tại Điểm b, Khoản 1 Điều 26 Luật Đầu tư 2014 và Bước 2 - Thực hiện thủ tục thay đổi thành viên của Công ty TNHH A theo quy định của pháp luật.

Trong khi đó, với Công ty TNHH A, khi thực hiện thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP, C đã phải đáp ứng điều kiện đầu tư, đặc biệt là điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế.

Rõ ràng là, việc yêu cầu C phải thực hiện thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp như nêu trên là không hợp lý, và làm phát sinh thêm thủ tục đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Từ kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi khuyến nghị bãi bỏ thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài là thành viên, cổ đông hiện hữu của tổ chức kinh tế đó.

                                                                                                                                        Theo Đỗ Trọng Định

                                                                                                                                      Công ty Luật TNHH SMiC